Nơi can thiệp hỗ trợ trẻ tự kỷ, chậm nói, tăng động – giảm chú ý, hung tính …! Hotline 0963 08 55 85

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ

LIỆU PHÁP TÂM LÝ PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ

 

    Tầm quan trọng của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trẻ

Ngôn ngữ được coi là một công cụ quan trọng giúp con người chiếm lĩnh và chinh phục tri thức khoa học và tri thức của đời sống thường nhật. Các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới như Freud, Doman … đã chỉ ra ngôn ngữ là kết quả của quá trình nhận thức. Khi con người bắt đầu có nhận thức thì cũng là lúc con người bắt đầu hình thành ngôn ngữ và nhờ có ngôn ngữ mà con người có thể giao tiếp được với nhau, cũng như biểu đạt được tâm tư, tình cảm, mong muốn, cảm nhận, quan điểm bên trong của mỗi con người.

Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ gắn liền với quá trình hòa nhập xã hội của mỗi cá nhân, do vậy, ngôn ngữ thể hiện đặc điểm cá nhân của mỗi con người. Một con người có tri thức/thiếu tri thức, một con người nhã nhặn/thô lỗ, một con người có phẩm chất đao đức tốt/không tốt, sáng tạo/bảo thủ, khiêm tốn/kiêu ngạo, cẩn thận/bất cẩn … đều có thể biểu hiện ra bằng ngôn ngữ.

Như vậy, chúng ta có thể  thấy ngôn ngữ có vai trò quan trọng giúp trẻ mở ra cánh cửa trí thức, giúp trẻ biết sử dụng ngôn ngữ để quan sát, tư duy, tưởng tượng và ghi nhớ…, từ đó giúp trẻ hình thành nhân cách riêng. Những đứa trẻ thiếu ngôn ngữ hay có khó khăn về ngôn ngữ sẽ khó có được sự phát triển toàn diện về nhân cách bởi chúng không thể biểu lộ, không thể truyền đạt được hết các suy nghĩ, mong muốn … của chúng đến người khác. Thông thường, khi muốn biểu đạt một điều gì đó mà không thể diễn tả được bằng ngôn ngữ để người kia hiểu thì trẻ dễ nổi cáu, muốn đập phá đồ đạc, đập đầu vào tường, lăn xuống đất gào khóc hoặc lao vào đánh người khác … Hiện tượng trên xuất hiện nhiều lần sẽ định hình tính cách của trẻ, như: hung tính, thích phá phách, thích tự hủy hoại bản thân…

Điều này cho thấy, phát triển ngôn ngữ cho trẻ ngay từ khi mới hình thành nhận thức là công việc hàng đầu của giáo dục gia đình. Được giáo dục ngôn ngữ từ sớm, trẻ sẽ có nhiều cơ hội khám phá thế giới xung quanh, có nhiều cơ hội trưởng thành và có tiềm năng phát triển cao hơn so với chính bản thân trẻ (trường hợp trẻ được giáo dục ngôn ngữ muộn).

- Khả năng phát triển ngôn ngữ của một trẻ bình thường

Với một trẻ có khả năng phát triển ngôn ngữ bình thường thì ngay từ 12 tháng tuổi (đôi khi sớm hơn) trẻ đã có thể bật âm được một số từ đơn giản như ba, má, ạ, chào, bye,…., ngoài sự chủ động trong việc bật âm, trẻ đã bắt đầu biết bắt chước âm thanh của người lớn, từ đó chuyển hóa thành ngôn ngữ của bản thân. Khả năng bắt chước và chuyển hóa âm thanh của người lớn thành ngôn ngữ của bản thân trẻ phụ thuộc nhiều vào yếu tố môi trường gia đình. Nếu trong gia đình thường xuyên có người trò chuyện với trẻ, cùng chơi đồ chơi với trẻ, giúp trẻ thiết lập các tương tác ban đầu như: giao tiếp mắt, chú ý lắng nghe, tập phát âm … thì trẻ sẽ có khả năng phát triển ngôn ngữ sớm mà khả năng này đến với trẻ ngay từ 0 tháng tuổi. Bởi lẽ:

Giai đoạn từ 0 – 3 tháng tuổi: Trẻ có khả năng phát ra (theo bản năng) những thanh âm vô nghĩa.

Giai đoạn từ 3 – 6 tháng tuổi: Trẻ bắt đầu biết bập bẹ các âm môi như ba, ba, mama … hoặc bắt chước lại các âm mà trẻ đã nghe được từ người lớn, đồng thời có khả năng diễn tả một số tình cảm qua nét mặt như:

- Chú ý vào người nói chuyện;

- Quay đầu về phía có tiếng động;

- Phân biệt được các tiếng động khác nhau phát ra từ các vị trí khác nhau;

- Phát ra các âm thanh khi được hỏi chuyện;

- Có thể đáp lại các âm thanh khi được hỏi: mỉm cười, ê, a …; và

- Tự chơi một mình với các âm thanh.

Giai đoạn từ 6 – 12 tháng tuổi: Trẻ có thể nói được những từ đơn như: bố, mẹ, bà,…, biết diễn tả một số nhu cầu qua các từ đơn như măm măm, ị, bô, bánh, cơm, sữa,…, có khả năng giao tiếp với mọi người xung quanh qua cử chỉ (chỉ được các đồ vật mà trẻ muốn, trẻ thích). Ngoài ra, trẻ có khả năng:

- Phối hợp các hoạt động;

- Theo dõi sự chuyển động của đồ vật theo các hướng khác nhau;

- Hiểu một vài từ – nối kết các âm thanh để tạo nên vần;

- Bắt chước gần đúng âm của người khác;

- Dùng cử chỉ, điệu bộ, nét mặt để giao tiếp; và

- Tạo ra được một vài âm gần giống với phụ âm.

Giai đoạn từ 12 – 18 tháng tuổi: Trẻ có vốn từ vựng khoảng 10-20 từ nhưng có khả năng hiểu gấp 10 lần khả năng nói nhờ quá trình tương tác hàng ngày với môi trường xung quanh. Vốn từ vựng của trẻ lúc này thường là những từ có liên quan đến hoạt động và nhu cầu của bản thân trẻ. Chẳng hạn, trẻ nói được những từ đôi như măm chuối, đi về, bố bế, mẹ bế, chào bà…, có thể nhắc lại được các câu đơn giản: hoan hô bé, mẹ đâu rồi, mẹ cho con,… và nhận biết được các bộ phận cơ thể như mắt, mũi, mồm, tai, tay, chân…

Giai đoạn từ 18 tháng – 2 tuổi: khi này, trẻ đã có khả năng tích lũy được khoảng 200 từ vựng, trong đó 2/3 là danh từ; có khả năng nói được những câu ngắn như: bố đi làm, mẹ đi chợ, rửa chân tay,…; đã có ý thức tự chủ, tự biết tên mình nhưng chưa phân biệt được cái gì của mình, cái gì của người khác. Biểu hiện ngôn ngữ của trẻ trong giai đoạn này thường là:

- Hiểu và thực hiện được các mệnh lệnh đơn giản: “ném bóng cho mẹ, cầm cốc cho bố”…;

- Phân biệt được các đồ vật thường dùng;

- Nhận ra được một số bức tranh về các đồ vật ở xung quanh. Ví dụ: tranh về cái cốc, bàn;

- Nói một vài từ;

- Biết khởi xướng các trò chơi;

- Tạo ra chuỗi âm không có nghĩa với các ngữ điệu khác nhau; và

- Có khả năng bắt chước được từ đơn.

Giai đoạn từ 2 đến 3 tuổi: Trẻ nói được những câu ngắn đơn giản, có chủ ngữ, động từ như: con chào mẹ, cháu chào bà …, nếu có môi trường tương tác tốt, được giao tiếp thường xuyên, trẻ sẽ có khả năng phát triển vốn từ một cách nhanh chóng và có tiềm năng phát triển ngôn ngữ phong phú, đa dạng. Trong giai đoạn này, trẻ nói được khoảng 200 từ và hiểu được khoảng 1000 từ, biết hát các bài hát ngắn, đọc các câu thơ, câu vè có vần, điệu và có thể kể một số câu chuyện ngắn dù chưa hiểu nội dung. Vốn từ vựng của trẻ trong giai đoạn này giúp trẻ:

- Hiểu được các khái niệm về vị trí: phía trước, bên phải, bên ngoài, bên trên, bên dưới,…

- Hiểu một vài chức năng của đồ vật và các bộ phận của cơ thể như: cốc để uống nước, lược để chải đầu, mũi để ngửi, miệng để ăn…;

- Hiểu một vài đại từ mô tả: to/bé, ướt/khô;

- Hiểu một số khái niệm số lượng, quan hệ bộ phận, tổng thể;

- Hiểu được các hành động trong tranh: tắm, đi chơi, ăn cơm, học bài …;

- Biết sử dụng các câu đơn giản, đặt câu hỏi đơn giản: cái gì đây?…;

- Trả lời được các câu hỏi: cái gì, ở đâu? Có/ không;

- Nói được các câu đơn giản, có chủ từ, vị từ, và bắt đầu dùng từ sở hữu: của con, của mẹ…

Giai đoạn 3 -  4, 5, 6 tuổi : trẻ nói được các câu phức và có thể sử dụng ngôn ngữ khá tốt; phân biệt và hiểu được các câu đa nghĩa; hiểu được câu phức tạp và trái nghĩa; có thể phát triển, duy trì được đoạn hội thoại dài.

Trên đây một số biểu hiện cơ bản về các mốc giai đoạn phát triển ngôn ngữ của trẻ qua đó giúp chúng ta xác định được trẻ có khó khăn ngôn ngữ hay không, nếu có thì là dạng khó khăn ngôn ngữ nào dưới đây:

- 8 dạng cơ bản của khó khăn ngôn ngữ

+ Chậm nói so với tuổi: Trẻ không có dấu hiệu tự kỷ nhưng bị chậm phát triển ngôn ngữ (không nói được, nói không rõ …);

+ Không làm chủ ngôn ngữ: trẻ chỉ biết lặp lại như một cái máy những từ nghe được mà không hiểu được ý nghĩa của từ;

+ Nói ngọng: trẻ không phát âm được đúng một số âm tiết;

+ Nói lắp: trẻ khó phát âm được một số từ nên phải phát âm lặp lại nhiều lần;

+ Nói không rõ lời: trẻ nuốt âm, phát âm rời rạc khiến người nghe không hiểu;

+ Thường hay nói thầm hoặc nói quá nhỏ: không ai nghe được trẻ nói gì;

+ Nói ngược: trẻ thường nói đảo chủ ngữ, như: ăn cơm mẹ;

+ Khác: các dạng khó khăn ngôn ngữ còn lại.

Những trẻ có khó khăn ngôn ngữ như trên nếu được can thiệp tâm lý sớm sẽ dễ dàng thoát khỏi tình trạng khó khăn gặp phải và phát triển bình thường như bao trẻ khác, ngược lại, càng để lâu càng khó can thiệp. Nhiều khi, chỉ cần gia đình làm chậm 03 tháng (từ khi phát hiện đến khi cho trẻ đi can thiệp tâm lý) thì các nhà tâm lý cần phải dành thêm 1 năm hoặc hơn để can thiệp hỗ trợ.

(Xem thêm bài viết khó khăn về ngôn ngữ dẫn đến khó khăn về giao tiếp tại địa chỉ website http://lophocvuive.vn/2012/12/kho-khan-ve-ngon-ngu-dan-den-kho-khan-ve-nhan-thuc-ve-giao-tiep-2/)

 

Một số liệu pháp tâm lý hỗ trợ trẻ thoát khỏi khó khăn ngôn ngữ

v    Dạy trẻ giao tiếp bằng mắt.

-  Nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ ngồi ngang bằng, đối diện với trẻ. Hoạt động này giúp trẻ tăng cường sự chú ý, tập trung và giao tiếp mắt với người dạy. Với tư thế này, người dạy dễ dàng quản lý được hành vi của trẻ, đồng thời tạo sự tương tác của trẻ với người dạy. Điều này sẽ đem lại thuận lợi cho người dạy và một phần tích cực đối với trẻ trong việc phát triển ngôn ngữ.

Chia sẻ kinh nghiệm của nhà tâm lý:

Cháu T.L.A, 26 tháng, gặp khó khăn về chậm nói, một số nét cần phải theo dõi của bệnh tự kỷ (hạn chế giao tiếp mắt, hầu như không có giao tiếp mắt với người khác, hành vi định hình đi kiễng chân rất nhiều, xoay vòng tròn mà không hề thấy chóng mặt trong khi người khác nhìn vào thì cảm thấy chóng mặt và thấy cháu như sắp ngã đến nơi nhưng thực tế cháu lại không chóng mặt và không bị ngã thậm chí còn tỏ ra thích thú với hành vi định hình tiêu biểu, dễ dàng nhận thấy biểu hiện của nét tự kỷ này ở trẻ nhỏ), cháu nghịch luôn chân luôn tay, leo trèo, không biết nguy hiểm như sẵn sàng trèo lên lan can cầu thang, trèo lên bàn ghế để nhảy mà không sợ bị ngã hay hất tung tất cả đồ chơi mà cháu nhìn thấy chứ không học cách chơi và không bắt chước cách chơi đồng thời với những đồ chơi nhỏ, cháu luôn có xu hướng cho đồ chơi vào miệng; sẵn sàng cấu, cắn người dạy cháu những lúc cháu không vừa ý.

     Việc giúp T.L.A ngồi yên, ngồi đối diện và ngang bằng với người dạy là một thử thách lớn. Bằng việc người dạy hướng dẫn, khuyến khích cháu mỗi ngày một chút dần dần cháu có thể ngồi yên được lâu và duy trì được việc học đến hết buổi. Nhưng thực sự đòi hỏi sự kiên trì, nhẫn nại từ phía người dạy cháu thì mới quản lý được nhiều hành vi của cháu. Một điểm tích cực là cháu bắt đầu có những giờ học đặc biệt khi 26 tháng thì việc uốn nắn cháu dễ dàng hơn một chút. Với những khó khăn trên của T.L.V mà cháu đã 36 tháng hoặc 40 tháng thì việc uốn nắn các hành vi của cháu để cháu ngồi yên, đối diện và ngang bằng, hợp tác với người dạy sẽ gặp khó khăn hơn rất nhiều.

Sau 3 buổi làm việc đầu tiên, khoảng thời gian ngồi yên, ngồi đối diện của T.L.A chỉ dừng lại từ 5 đến 10 phút, thời gian còn lại, cháu rất tùy hứng làm các việc như đổ hết đồ chơi ra sàn, cho đồ chơi vào miệng, giẫm đạp lên đồ chơi, hầu như không nhìn và không quan sát cách chơi của cô, leo trèo lên bàn ghế…Trong trường hợp T.L.A có quá nhiều hành vi cần phải điều chỉnh như vậy, việc kiểm soát cảm xúc của nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ T.L.A có ý nghĩa quyết định đến sự hợp tác và thay đổi của cháu. Không thể và không nên quát, mắng, đánh để cháu T.L.A chấm dứt các hành vi trên và càng không thể yêu cầu cháu ngồi yên, ngồi đối diện khi cháu không hiểu hoặc tỏ ra không muốn. Chỉ duy nhất cách quản lý hành vi nguy hiểm của cháu như không để cháu cho đồ chơi vào miệng, không để cháu đổ đồ chơi ra sàn, không cho trèo lên trên bàn…bằng những động tác nhẹ nhàng, cương quyết của nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ T.L.A như: giữ tay, ngăn không cho cháu trèo lên bàn, không cho cháu đổ đồ chơi bằng những câu giải thích ngắn gọn như “Cô/bố mẹ không đồng ý cho con…” diễn ra liên tục trong giờ làm việc mới giúp T.L.A thay đổi hành vi và làm theo hướng dẫn của người dạy. Việc người dạy quát, mắng, đánh những trẻ như T.L.A sẽ khiến trẻ bị kích thích hung tính, cao hơn là xuất hiện xung động và không giúp cho trẻ có những thay đổi ổn định về hành vi.

Đến buổi thứ 4 trở đi, cháu hợp tác được lâu hơn và bắt đầu chấp nhận cách dạy của nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ biểu hiện là chấp nhận việc ngồi đối diện, ngồi ngang bằng với người dạy. Để kéo dài được thời gian T.L.V ngồi yên, ngồi đối diện và hợp tác trong giờ dạy, nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ cháu liên tục cần củng cố và quản lý hành vi của T.L.A.

Bố mẹ T.L.A đã thực sự hợp tác với các hướng dẫn của nhà tâm lý/giáo viên nên cháu có được một số thay đổi tích cực như khi cháu 32 tháng, ngôn ngữ phát triển khá hơn, có thể sử dụng được một số từ đơn đứng hoàn cảnh, hành vi cảm xúc kiểm soát tốt hơn một chút. Khi được 50 tháng tuổi, cháu đã tiến bộ hơn rất nhiều như sử dụng được câu dài có chủ động, bắt đầu biết kể chuyện và hợp tác chơi nhóm bạn tốt hơn nhất là các trò chơi giả vờ như nấu ăn, chuyển nhà…. T.L.V đã nói được câu “Mỳ tôm cay quá, không cho ớt vào nữa đâu”, “mời bạn gấu đi chơi công viên nào” kèm theo hành động biểu lộ cảm xúc phù hợp…Tuy nhiên, hành vi liên quan đến tăng hoạt động, giảm chú ý vẫn cần tiếp tục được giúp đỡ.

 

-  Nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ của trẻ có thể sử dụng một đồ vật mà trẻ thích để ngang tầm mắt của trẻ, đưa đi, đưa lại nhẹ nhàng sang bên phải, bên trái hoặc lên cao hạ xuống nhằm thu hút trẻ chú ý, đồ vật đó có thể là đồ chơi, cũng có thể là đồ ăn được, nhưng chú ý, nếu là đồ ăn được thì đồ ăn đó cần chia ra được thành nhiều mảnh nhỏ như bim bim, bánh quy, bánh ngọt… để tránh trẻ ăn no sẽ không còn hứng thú tham gia tiếp và khi thấy trẻ chú ý thì đưa đồ vật đó cho trẻ cầm chơi hoặc ăn một miếng nhỏ.

-  Nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ của trẻ khéo léo thu hồi đồ vật mà trẻ đang cầm hoặc lấy ra một mẩu đồ ăn nhỏ khác để tiếp tục thu hút trẻ. Lúc này nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ của trẻ vừa đung đưa nhẹ nhàng đồ vật đó trước mắt trẻ, vừa gọi tên trẻ và quan sát biểu hiện của trẻ;

-  Chú ý, để thực hiện được các công việc trên, yêu cầu nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ của trẻ cần: (1) giữ một khoảng cách nhất định với trẻ (không quá gần khiến cản trở tầm nhìn của trẻ, không quá xa để đảm bảo thu hút được trẻ tham gia, tốt nhất là ngồi đối diện); (2) nhìn vào mắt trẻ một cách tự nhiên; (3) sử dụng giọng nói, hành động nhẹ nhàng, tự nhiên để thu hút trẻ; (4) lặp lại hành động trên nhiều lần để củng cố và kéo dài khả năng giao tiếp bằng mắt của trẻ; và (5) động viên khi trẻ làm đúng.

v           Dạy trẻ bắt chước hành động của đồ vật

- Nhà tâm lý/giáo viên/ bố mẹ ngồi đối diện, ngang bằng và tạo cảm giác thoải mái cho trẻ. Điều này giúp trẻ củng cố sự giao tiếp mắt và tăng cường sự tập trung  chú ý cho trẻ , tuy nhiên người dạy luôn tạo cảm giác thoải  mái cho trẻ để trẻ cảm thấy dễ chịu, tự tin và không khó chịu trong quá trình người dạy hướng dẫn. Khi trẻ có được một tư thế đối diện và thoải mái trẻ sẽ hứng thú và thích thú với bài học, giúp người dạy thuận lợi khi hướng dẫn trẻ bài tập này.

-  Nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ để hai đồ vật giống nhau lên trên bàn để trẻ dễ nhận biết và bắt chước các hoạt động của người dạy như: lược, ô tô, búp bê. Người dạy tạo sự thu hút với trẻ và bắt đầu thực hiện những hoạt động để trẻ bắt chước những hành động này, đây là những hành động đơn giản mà trẻ có khả năng làm được như cho búp bê ăn, đẩy ô tô, đội mũ, đánh trống, thổi còi, uống nước… Những hành động này luôn đi từ đơn giản đến phức tạp để giúp trẻ dễ dàng thực hiện và bắt chước.

Chia sẻ kinh nghiệm của nhà tâm lý:

Cháu N.K.D được nhà tâm lý/ giáo viên/ gia đình dạy học cách bắt chước vận động thô thông qua bài tập vỗ tay theo nhà tâm lý/ giáo viên/ gia đình, tư thế của trẻ là ngồi đối diện với người dạy, trẻ ngồi ngang tầm mắt với người dạy để tạo sự chú ý, giao tiếp mắt giữa trẻ với người dạy. Tư thế ngồi đối diện là tư thế hiệu quả, thoải mái nhất của trẻ đối với người dạy, giúp người dạy thuận lợi khi dạy và cũng giúp trẻ bắt chước, nhìn theo hoạt động vỗ tay của người dạy môt cách dễ dàng. Khi trẻ ngồi đối diện đối với người dạy và mắt chú ý tới người dạy thì đây cũng là một kết quả ý nghĩa của người dạy, vì để trẻ bắt chước được thì trẻ phải có sự chú ý đối với người dạy, có như vậy thì việc dạy trẻ mới đem lại hiệu quả.

 

-  Nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ có thể hỗ trợ trẻ thực hiện hành động khi trẻ gặp khó khăn. Người dạy có thể cầm tay của trẻ và hướng dẫn. Khi trẻ dần có khả năng thực hiện, người dạy giảm dần khoảng cách trợ giúp để trẻ độc lập thực hiện. Với sự giúp đỡ của người dạy, trẻ dễ dàng thực hiện, từ đó có hứng thú hơn.

-  Nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ khen thưởng cho trẻ khi trẻ thực hiện đúng hành động bắt chước để động viên tinh thần và tạo sự hứng thú cho trẻ trong các bài tập tiếp theo.

-  Khi hướng dẫn trẻ, người dạy cần chú ý những điều sau: (1) kiên nhẫn làm mẫu cho trẻ (2) xác định hành động phù hợp với khả năng của trẻ để trẻ dễ bắt chước (3) nhìn trẻ một cách tự nhiên (4) sử dụng giọng nói nhẹ nhàng để thu hút trẻ (5) khen thưởng khi trẻ làm đúng.

Chia sẻ kinh nghiệm của nhà tâm lý:

Với khó khăn về vận động thô, nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ đã giúp cháu N.K.D phát triển các hoạt động thô thông qua các bài tập giúp cháu bắt chước, thực hiện theo các hoạt động mà nhà tâm lý/giáo viên/ bố mẹ hướng dẫn. Đối với N.K.D, nhà tâm lý/ giáo viên/ bố me xác định được hạn chế, điểm yếu của cháu trong hoạt động thô và đặc điểm sức khỏe của cháu (tay chân cháu bị thiếu canxi từ khi còn nhỏ). Dựa vào những điểm này mà nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ đặt kế hoạch với những bài dạy về vận động thô cơ bản, phù hợp với khả năng của cháu như vỗ tay, giơ cao tay, đi lên, xuống bậc, nghiêng đầu,… đây là những hoạt động cơ bản. Trong khi hướng dẫn cháu, nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ đã luôn tạo cho N.K.D sự chú ý tập trung, ánh mắt hướng nhìn về phía người dạy. Cử chỉ, giọng nói của nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ lúc đó luôn nhẹ nhàng, ân cần, trong khi hướng dẫn cháu. Do D có vẻ khó khăn khi bắt chước những hoạt động này, nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ luôn kiên trì, ân cần và hỗ trợ cháu trong những lần thực hiện đầu để cháu làm theo, sau đó giảm dần sự trợ giúp để cháu tự làm, bắt chước theo sự hướng dẫn. Được sự hướng dẫn ân cần, cháu N.K.D, sau những buổi trị liệu, dần dần đã thực hiện được một số hoạt động cơ bản như vỗ tay, giơ tay lên, đi lên, đi xuống bậc, vỗ tay “yeah” với người khác,… đây là những tiến bộ của cháu trong thời điểm ban đầu, điều này sẽ giúp cháu tiếp tục bắt chước những hoạt động khó hơn từ nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ.

     Khi N.K.D đã thực hiện được, bắt chước được, nhà tâm lý/giáo viên/ bố mẹ tổ chức bài tập lặp đi lặp lại hiều lần để cháu nhớ và thực hiện mà không cần sự trợ giúp bên ngoài, đồng thời nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ luôn động viên, khen, khuyến khích cháu khi cháu thực hiện được và khi cháu không thực hiện được để cháu có hứng thú, động lực làm theo hướng dẫn mà không cảm thấy tự ti. Trong khi hướng dẫn, nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ ngồi, đứng đối diện với trẻ và nói “con nhìn này”, bắt đầu thực hiện hoạt động đưa tay lên, vỗ tay,… và kèm theo lời nói “đưa tay lên, bỏ tay xuống…” như vậy trẻ sẽ chú ý, hướng về phía lời nói, mệnh lệnh và trẻ bắt chước theo. Khi cháu đã thực hiện được, nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ để trẻ bắt chước mà không có sự trợ giúp, không ra lệnh hoặc giảm bớt ra lệnh bằng lời, hoặc cho lệnh bằng lời mà không làm theo cử chỉ, hành động.

 

     Dạy trẻ bắt chước hoạt động vận động bằng miệng:

-         Nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ của trẻ để trẻ ngồi theo tư thế thoải mái phù hợp với mục đích buổi học. Tư thế ngồi của trẻ rất quan trọng nó ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của bài học. Một buổi dạy trẻ có thể được kéo dài từ 30 đến 45 phút, do đó trong khoảng thời gian này người dạy luôn phải chú ý đến tư thế, luôn tạo cảm giác thoải mái cho trẻ trong khi dạy trẻ bắt chước các hoạt động mẫu, có như vậy trẻ mới chú ý vào bài học. Một tư thế gò bó dễ tạo cho trẻ cảm giác nhàm chán, khó chịu, phân tán sang các hoạt động khác, điều đó gây khó khăn đến quá trình dạy trẻ bắt chước theo mẫu.

 

Chia sẻ kinh nghiệm của nhà tâm lý:

Cháu N.X.P, 35 tháng tuổi, được đánh giá với những khó khăn như chậm nói, ngôn ngữ của cháu còn rất hạn chế chỉ bằng trẻ 18 tháng tuổi, có một số biểu hiện của tự kỷ, các vận động tinh và thô còn hạn chế. Khi P dưới 2 tuổi, gia đình chưa cho cháu đi học lớp mẫu giáo, cháu ở nhà cùng với ông bà và mẹ. Cháu hay xem ti vi nhất là chương trình phim hoạt hình, quảng cáo. Cháu rất lười nói, bắt chước rất ít, không chú ý nhìn mọi người, thường né tránh người khác và hay tập trung vào đồ chơi, ti vi, cháu ít bộc lộ cảm xúc, chỉ phát âm được 1 từ là bye, còn phát âm nhiều âm vô nghĩa, hay kéo tay người khác khi có nhu cầu. Cháu hiểu lời, nhưng ít đáp ứng lời gọi, không chơi cùng trẻ khác do có khó khăn khi chơi cùng nhóm bạn. Gia đình lúc này chưa chú ý đến việc dạy cháu.

     Dựa vào đặc điểm, hạn chế của cháu cũng như những tìm hiểu về gia đình cháu, nhà tâm lý/ giáo viên đã hướng dẫn, giúp cháu bắt chước những hoạt động vận động miệng. Trước hết nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ cần phải tạo tư thế thoải mái cho cháu trong quá trình dạy cháu, bởi đây là yếu tố tiên quyết để cháu chú ý tập trung bắt chước theo mẫu. Quá trình dạy cháu bắt chước vận động miệng có thể kéo dài hay không cũng tùy thuộc vào tư thế của cháu, tư thế thoải mái, cháu sẽ có cảm giác thoải mái, dễ chịu không gò bó, tạo sự hứng thú khi học, từ đó đem lại hiệu quả cho cháu. Buổi học thông thường được kéo dài từ 30- 45 phút, do đó trong quá trình dạy cháu, nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ luôn phải chú ý tới thái độ, cảm giác của cháu, tư thế đứng, ngồi có đem lại cho cháu sự thoải mái khi học hay không, điều đó đòi hỏi người dạy luôn phải nhạy bén, linh động điều chỉnh tư thế cho cháu sao cho thoải mái, phù hợp với buổi học, với mục đích của bài dạy. Trong giờ học cháu luôn được nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ điều chỉnh tư thế từ ngồi dưới sàn, ngồi ghế và đứng, đây là những tư thế giúp cháu được thoải mái khi bắt chước.

 

  • Nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ của trẻ ngồi đối diện để thu hút sự chú ý của trẻ; đây cũng là một trong những yếu tố đầu tiên đảm bảo trẻ có thể bắt chước được hay không thông qua việc để trẻ ngồi đối diện với người dạy. Tư thế của trẻ có thể ngồi hoặc đứng,… nhằm tạo sự thoải mái cho trẻ, tuy nhiên ngồi đối diện là yếu tố bắt buộc phải đảm bảo trong suốt buổi học bởi ngồi đối diện sẽ giúp trẻ có được sự chú ý, tập trung, sẽ nhìn trực diện với người dạy, nhờ đó giúp trẻ tiếp thu, bắt chước những hoạt động vận động bằng miệng một cách hiệu quả.
  • Nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ của trẻ làm mẫu một hành động bằng miệng và nhắc trẻ làm theo. Các bài tập cho phần này có thể là dạy trẻ há miệng ra, thè lưỡi ra, mím môi, chạm răng vào nhau, thổi bóng, hôn, mếu,… đây là những bài tập hỗ trợ trẻ phát âm, bật âm, đồng thời nâng cao khả năng bắt chước của trẻ. Nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ ngồi đối diện với trẻ, vừa làm mẫu vừa nhắc trẻ làm theo “con ơi nhìn này” để tạo sự chú ý của trẻ tới hành động làm mẫu, sau đó nhắc trẻ “con làm như thế này nhé”…
  • Việc làm mẫu cho trẻ không thể chỉ một lần là đủ mà đòi hỏi nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ kiên trì, nhiệt tình, ân cần làm mẫu nhiều lần, có vậy mới giúp trẻ bắt chước được. Do vậy, người dạy sẽ làm mẫu liên tục nhiều lần để trẻ quen, khi thấy trẻ khó có thể thực hiện được thì có thể trợ giúp trẻ làm theo, đồng thời luôn biết cách khích lệ, tạo sự hứng thú để trẻ tiếp tục bài tập.
  •  Trong suốt quá trình dạy trẻ, nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ luôn tạo không khí thoải mái, hạn chế gò bó hay nôn nóng. Mỗi khi trẻ bắt chước thành công thì nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ có thể khen thưởng bằng các lời nói khích lệ, động viên. Điều này sẽ khuyến khích tinh thần của trẻ, tạo cho trẻ niềm vui, niềm hứng thú khi học, bắt chước trong các bài tập tiếp theo.
  • Khi thấy trẻ có khả năng và bước đầu làm quen với các hành động mẫu thì người dạy có thể giãn dần khoảng cách trợ giúp, gợi ý trẻ ít dần đi trong các lần dạy tiếp theo, để trẻ tự lực thực hiện, đồng thời tăng cường khả năng bắt chước của trẻ đến khi trẻ thuần thục.
  • Nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ của trẻ xác định các hoạt động làm mẫu cần đi từ dễ đến khó hơn. Dựa vào khả năng của trẻ, xác định được những hạn chế của trẻ, nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ xây dựng bài tập, bài học phù hợp với trẻ. Việc xác định các hoạt động làm mẫu này theo mức độ sẽ giúp cho trẻ thích nghi dần, làm quen dần với các bài tập đơn giản trước khi làm những hành động phức tạp, điều này cũng làm cho trẻ cảm thấy thoải mái, tự tin, hứng thú khi làm những động tác đơn giản mà bản thân trẻ có thể làm được.
  • Do vậy, trong khi dạy trẻ bắt chước các hoạt động vận động bằng miệng luôn phải theo trật tự, một quy tắc đi từ dễ đến khó, tránh việc dạy trẻ những động tác khó, phức tạp ngay từ ban đầu, vì điều này sẽ gây áp lực cho trẻ, khiến trẻ khó thực hiện thành công. Khi không thể làm được những bài tập khó, trẻ dễ nảy sinh cảm giác chán nản, né tránh, không hứng thú học tiếp và như vậy, buổi học sẽ không hiệu quả.
Chia sẻ kinh nghiệm của nhà tâm lý:

Cháu N.X.P được nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ hỗ trợ, hướng dẫn các bài tập liên quan đến việc bắt chước những hoạt động vận động bằng miệng như thổi kèn, thổi bóng, lè lưỡi, hôn, há miệng,… Dựa vào những khó khăn, khả năng của P, nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ đã sắp xếp phù hợp các bài tập theo mức độ từ thấp đến khó, việc sắp xếp này giúp cháu thích nghi, làm quen dần với bài tập, đồng thời tác động đến tâm lý của cháu, với những bài tập dễ trước tiên sẽ giúp giúp cháu bắt chước nhanh hơn, khi đó cháu sẽ tự tin, hứng thú với bài tập tiếp theo ở mức độ cao hơn. Trong quá trình dạy cháu, nhà tâm lý/ giáo viên/ bố mẹ làm mẫu những hành động đơn giản như hôn, cười, lè lưỡi, há miệng ra… để cháu nhìn theo và bắt chước, sau đó khi P đã có khả năng thực hiện những bài tập này thì người dạy làm mẫu cho cháu những bài tập cao hơn, phức tạp hơn như mím môi, chạm răng vào môi, chạm răng vào nhau,… Sau nhiều giờ trị liệu, hướng dẫn làm mẫu cho cháu, P đã bắt chước được những hành động đơn giản như thơm, há miệng, lè lưỡi,… đây là những tiến bộ tích cực của cháu, tạo tiền đề, cơ sở để cháu bật âm những âm đầu tiên, đồng thời giúp cháu thực hiện những động tác khó  tiếp theo. Như vậy, việc xác định mức độ  bài tập sẽ giúp cháu tiếp thu bài học, bắt chước nhanh hơn, giúp nhà tâm lý/ giáo viên/ bố me thuận lợi khi dạy cháu, đồng thời rút ngắn thời gian dạy cháu để cháu bật âm nhanh hơn.

 

  • Chú ý, nhà tâm lý/giáo viên/bố mẹ của trẻ cần (1) xác định bài tập phù hợp với khả năng của trẻ; (2) nhìn trẻ một cách tự nhiên (3) kiên nhẫn làm mẫu cho trẻ; (4) sử dụng giọng nói nhẹ nhàng để thu hút trẻ; (5) động viên khi trẻ làm theo được./.   

Nhóm các nhà tâm lý – Lớp học vui vẻ

Hoàng Thị Hoa

Nguyễn Thu Hà – Nguyễn Trung Hải

Nguyễn Thị Hường – Lương Thị Phương

Đã tắt bình luận.

Liên hệ

NHÓM CÁC NHÀ TÂM LÝ - LỚP HỌC VUI VẺ
Số 36 - Ngõ 189 - Hoàng Hoa Thám - Hà Nội
Hotline: 0975528530
Website: lophocvuive.vn
Email: lophocvuive.vn@gmail.com

Bài mới nhất

Thống kê truy cập

  • 68743Tổng lượt truy cập:
  • 36Hôm nay:
  • 68Ngày hôm qua:
  • 3214Trong một tháng:
  • 2Đang Online: